PHCN TBMMN và CTSN trong giai đoạn mạn – Hoạt động trị liệu

Thời gian:

Từ tuần thứ 3 đến hết tháng thứ 6 sau đột quị.

Các thành phần:

  • Vật lý trị liệu : bệnh viện Chợ Rẫy chọn lựa phương pháp “Tập theo tác vụ”.
  • Hoạt động trị liệu.
  • Âm ngữ trị liệu: điều trị rối loạn khả năng giao tiếp nếu có.

Tiêu chí điều trị:

  • Hồi phục tối đa về mặt vận động và chức năng.
  • Tái hòa nhập với cộng đồng.

 

HOẠT ĐỘNG TRỊ LIỆU

Đặt mục tiêu điều trị:

Mục tiêu điều trị hoàn toàn dựa vào nguyện vọng và mong muốn của BN và người nhà, ví dụ như là mong muốn có thể độc lập trong việc vệ sinh cá nhân, đi làm trở lại hay thực hiện một sở thích nào đó.

Mục tiêu càng rõ ràng, càng cụ thể thì việc lên kế hoạch điều trị sẽ càng hiệu quả và xúc tích. Ví dụ: không nên chỉ ghi mục tiêu là muốn đi lại, cần phải hỏi rõ mục tiêu này bằng cách hỏi BN trước tiên là muốn đi đâu, đi bao xa và đi trong môi trường nào (đi độc lập từ phòng khách/phòng ngủ tới toilet để có thể ở nhà một mình)

Lượng giá chức năng:

Quan trọng nhất là làm lượng giá chi tiết và kỹ lưỡng đề phát hiện và phân tích các khiếm khuyết, khó khăn cũng như những lợi thế hiện có của BN.

 

Các bài lượng giá được sử dụng tại bệnh viện Chợ Rẫy:

Lượng Giá Chức Năng Chi Trên Lượng Giá Chức Năng Cao Cấp Của Não
1.         Mẫu lượng giá chức năng chi trên

2.         Brunnstrom

3.         Trương lực cơ (MAS)

4.         Cảm giác

5.         Đau

6.         Thăng bằng

7.         MMT (bậc cơ)

8.         ROM   (tẩm độ vận động)

9.         Điẽu hợp/Run

10.       FIM

1. Mức độ ý thức vể tình trạng và khả năng hiện tại của BN.

Ví dụ: thang điểm Glasgow

2. Lượng giá suy giảm chú ý và thờ ơ một bên.

Ví dụ: chọn e-t, đọc báo thuận và nghịch, TMT.,,

3. Lượng giá khả năng hiểu,

Ví dụ: xem BN có hiểu lời kỹ thuật viên và làm theo y lệnh hay không.

4. Lượng giá trí nhớ.

Ví dụ MMSE.

5. Lượng giá chức năng thùy trán.

Ví dụ: bài lượng giá FAB

 

Đề ra bài tập/chương trình tập phù hợp với khả năng và mục tiêu của BN và người nhà:

Sau khi lượng giá kỹ lưỡng và kỹ thuật viên phát hiện ra khiếm khuyết cũng như khả năng còn lại cùa BN Kỹ thuật viên có thể đề ra các bài tập với một trong hai mục tiêu chính sau:

Cải thiện khiếm khuyết:

Khi BN có thể cử động bên yếu nhưng bị hạn chế tầm vận động và sức cơ yếu, các bài tập hướng vào mục tiêu tăng tầm vận động và tăng sức cơ với tư thế đúng và không sử dụng cử động thay thế. Tập luyện từ mức độ dễ đến khó.

Ví dụ:

–           Với lấy vòng bằng tay yếu từ thấp (mức độ dễ) lên cao (mức độ khó) (hình 3.31).

–           Tập khéo léo bàn tay khi dùng muỗng (mức độ dễ) hay đũa (mức độ khó).

Thích nghi với khiếm khuỵết:

Áp dụng khi BN vẫn còn trong giai đoạn liệt mềm hay co cứng bởi vì trong giai đoạn này BN không có khả năng sử dụng bên yếu

Kỹ thuật viên hướng dẫn các bài tập sử dụng tay mạnh trong sinh hoạt hằng ngày và duy trì, hạn chế các biến chứng bên liệt như là bán trật khớp vai, co cơ…

Ví dụ:

–           Mặc, cởi quần áo với tay lành (hình 3.32 – 3.35).

–           Di chuyển từ nằm sang ngồi và ngược lại phía bên lành (hình 2.22).

–           Viết chữ, dùng muỗng đũa bằng tay lành (hình 2.28).

–           Lưu ý nếu có thể thì khuyến khích BN dùng tay yếu đế trợ giúp nâng đỡ hay cố định vật.

Thay đổi môi trường & dụng cụ hỗ trợ để tạo thuận lợi sinh hoạt hằng ngày cho bệnh nhân (hình 3.36,3.37).

Tái lượng giá:

Tái lượng giá để xác định hiệu quả của chương trình tập để thay đổi hoặc nâng cấp các bài tập để phù hợp với mục tiêu và khả năng của BN

Trong quá trình điều trị, Kỹ thuật viên phải làm việc theo nhóm, kết hợp chặt chẽ với bác sĩ điều trị, người nhà BN và các Kỹ thuật viên đồng minh trong ngành phục hồi chức năng để giúp cho bệnh nhân đạt hiệu quả tốt nhất trong quá trình điều trị.

Nguồn Khoa PHCN – Bệnh viện Chợ Rẫy

 

Hương Phạm

Written by 

Related posts

Leave a Comment