PHCN TBMMN và CTSN trong giai đoạn mạn – Vật lý trị liệu: Tác vụ đi bộ

 Vật lý trị liệu: Tác vụ đi bộ

Thời gian:

Từ tuần thứ 3 đến hết tháng thứ 6 sau đột quị.

Các thành phần:

  • Vật lý trị liệu : bệnh viện Chợ Rẫy chọn lựa phương pháp “Tập theo tác vụ”.
  • Hoạt động trị liệu.
  • Âm ngữ trị liệu: điều trị rối loạn khả năng giao tiếp nếu có.

Tiêu chí điều trị:

  • Hồi phục tối đa về mặt vận động và chức năng.
  • Tái hòa nhập với cộng đồng.

 

Vật Lý Trị Liệu: Tác vụ đi bộ

Đi bộ là một phần rất quan trọng trong sinh hoạt hằng ngày. Ở bệnh nhân đột quị, tác vụ đi bộ nên được thực hiện sớm khi bệnh nhân đã qua giai đoạn cấp. Bệnh nhân thường được huấn luyện tác vụ này tại nhà bệnh nhân (Home visit) với những bài tập cơ bản hoặc tại trung tâm PHCN ban ngày (Day care) với những bài tập phức tạp hơn.

Chu kỳ đi bộ thường được chia làm hai thì: thì trụ và thì đu. Thi trụ là lúc chân chạm trên mặt đất, lại được chia nhỏ thành 3 giai đoạn nhỏ. Thì đu là lúc chân ra khỏi mặt đất và chuyển chân tới trước, tương tự như thì trụ, cũng được chia thành 3 giai đoạn, trong đó giai đoạn đầu và giữa thì đu được xếp thành một nhóm:

  • Đầu thì trụ: lúc gót vừa tiếp đất.
  • Giữa thì trụ: lúc cả chân trụ tải lực xuống đất nhiều nhất.
  • Cuối thì trụ: lúc chân trụ đẩy lực tới trước cho đến lúc chuẩn bị rời ngón ra khỏi đất.
  • Đầu và giữa thì đu.
  • Cuối thì đu.

 Các vấn đề liên quan từng thì của chu kỳ dáng đi và có cách giải quyết tương ứng.

 

THÌ TRONG CHU KỲ DÁNG ĐI VẤN ĐỀ NGUYÊN NHÂN

 

Đầu thì trụ (khi bàn chân tiếp gót)
  • ·         Hạn chế gập mặt lưng bàn chân
  • ·         Gối gập ít = duổi gối (bình thường gối phải gập 15 độ)
  •  
  • ·         Giảm hoạt hóa cơ chẩy trước
  • ·         Co rút cơ bắp chân
  • ·         Co rút cơ dép
  • ·         Sự kiểm soát hoạt động của cơ tứ đầu đề gối gập từ 0 độ -15 độ bị giảm.

 

Giữa thì trụ
  • ·         Hạn chế duỗi gối (thay vì duỗi, gối vấn gập 100 – 15 độ) & bàn chân gập mặt lưng quá mức
  • ·         Duỗi gối quá mức.
  • ·         Hạn chế duỗi hông & hạn chế gập mặt lưng bàn chân
  • ·         Co rút, co cứng cơ dép.
  • ·         Lệch hông sang bên quá mức
  •  
  • ·         Giảm hoạt hóa cơ bắp chân
  • ·         Giảm hoạt hóa sự co đồng vận của nhóm cơ duỗi chân
  • ·         Co rút cơ dép
  • ·         Đáp ứng bù trừ do bệnh nhân sợ ngã
  • ·         Giảm hoạt hóa cơ dang hông
  • ·         Giảm sự kiểm soát hoạt động cơ hông & cơ duỗi gối

 

 

 

 

Cuối thì trụ
  • ·         Giảm gập gối & gập mặt lòng bàn chân
  • ·         Yếu cơ bắp chân
  • ·         (Yếu cơ bắp chân làm hạn chế gập gối & mặt lòng bàn chân giảm lực đẩy bàn chân và thân về phía trước)
Đầu & giữa thì đu
  • Giảm gập gối trong suốt giai đoạn đầu & giữa thì đu (bình thường gối gập 35 độ – 40 độ ở đẩu thì đu tăng đến 60 độ ở giữa thì đu)
  • ·         Giảm gập hông
  • ·         Giảm gập mặt lưng bàn chân

 

  • ·         Co rút, co cứng cơ tứ đầu
  • ·         Giảm hoạt hóa cơ gập hông.
  • ·         Hoạt hóa cơ hamstring giảm.
  • ·         Co rút, co cứng cơ bắp chân
  • ·         Có thể nguyên nhân chính là do chậm gập gối (hoạt hóa chậm) chứ không phải thật sự là giảm gập mặt lưng bàn chân

 

Cuối thì đu

(Chân chuẩn bị tiếp gót)

  • ·         Giảm duỗi gối & giảm gập mặt lưng bàn chân
  • ·         Co rút, co cứng cơ bắp chân,
  • ·         Yếu cơ gập mặt lưng bàn chân.

 

 

Như vậy các cách giải quyết vấn đề     :

. Kéo giãn cơ nếu vấn đề là co cứng, co rút cơ.

. Tập mạnh cơ nếu vấn đề là yếu cơ.

. Kích thích điện và tập mạnh cơ nếu vấn đề là giảm hoạt hóa cơ.

.Tập mạnh cơ (thường tập chủ động kèm với chịu tải) trong một tầm vận động được giới hạn nếu vấn đề là giảm sự kiểm soát hoạt động của cơ.

. Tập nhiều lần tác vụ đi bộ và thăng bằng kèm sự tham gia của nhiều người tập chung quanh (để bệnh ỵên tâm) nếu vấn đề là do đáp ứng bù trừ do bệnh nhân sợ ngã.

Bước 1: Kéo giãn cơ của chi liên quan với tác vụ:

Như trình bày ở trên, các cơ cần kéo giãn: cơ bắp chân chủ yếu là cơ dép & cơ thẳng đùi.

  • Kéo giãn ngắn 20 giây ngay trước khi tập, lặp lại 3-4 lần,

–           Kéo giãn ngắn cơ bắp chân: Bệnh nhân chống hai tay vào tường, lưng thẳng, hai chân đứng nghiêng về phía sau. Chân lành ở phía trước, gối gập. Chân yếu ở phía sau, gối thẳng (hình 3.24).

–           Kéo giãn cơ thẳng đùi: Bệnh nhân nằm sấp, chân yếu gập góc 90 độ, người tập nắm cổ chân bệnh nhân và đẩy vể phía đùi (hình 3.25),

  • Kéo giãn kéo dài: Trong trường hợp co cứng nhiều và cơ quá yếu có thể kéo giãn kéo dài 30 phút trong ngày (thực hiện tại nhà hoặc trung tâm PHCN)

–           Bệnh nhân đứng trên hai bục. Chân lành đứng trên bục cao, chân yếu trên bục thấp (hình 3.26).

–           Bệnh nhân ngồi trên ghế, hai chân đặt trên máng trượt đẩy hai chân vẽ phía sau, người tập chân yếu trượt về phía sau nhiều hơn cho đến lúc thấy lực căng tại bắp chân chân yếu nhiều nhất, bệnh nhân có thể dùng tay ấn từ gối chân yếu liệt hướng xuống đất

Bước 2: Khơi gợi hoạt động cơ:

Lúc khởi đầu tập đặc biệt ở giai đoạn sớm sau đột quị, các cơ liên quan đến tác vụ đi bộ có thể chưa hoạt động, người tập phải khơi gợi hoạt động bàng cách kích điện các nhóm cơ liên quan hoặc sử dụng các bài tập đơn giản (thường sử dụng hoạt động co cơ ly tâm trước khi cho co cơ hướng tâm).

 

Bài tập khơi gợi hoạt động cơ duỗi hông và cơ tứ đầu:

Bệnh nhân nằm ngửa, để chân yếu ra khỏi giường, gối gập 90 độ, tập duỗi hông bằng cách ấn chân hướng xuống dưới đấtt, người tập có thể giữ chân và hỗ trợ hướng lực ấn. Có thể để chân yếu trên một chiếc cân để biết được sự cải thiện của lực ấn qua thời gian (hình 3.27).

 

Bài tập khơi gợi hoạt động cơ hamstring:

Cơ hamstring có tác dụng duỗi hông và gập gối đo đó hoạt động của nó rất quan trọng cho tác vụ đi bộ. Cho bệnh nhân nằm sấp, người tập gập cẳng chân bên yếu góc 90 độ, rồi bảo bệnh nhân hạ chân xuống từ từ (co cơ ly tâm).

 

Bài tập khơi gợi hoạt động nhóm cơ duỗi hông và hamstring:

Cho bệnh nhân đi lùi sê giúp khơi gợi hoạt động của nhóm cơ duỗi hông và hamstring, Bài tập này chỉ hữu ích khi bệnh nhân có thể gập được gối bên yếu lên lúc duỗi hông khi đi lùi).

 

Bài tập khơi gợi hoạt động tứ đầu:

Bệnh nhân ngổi trên ghế, người tập duỗi thẳng gối bên yếu rồi bảo bệnh nhân hạ từ từ chân này (co cơ ly tâm). Lặp lại vài lần.

 

. Bài tập khơi gợi hoạt động nhóm cơ dang và áp hông:

hoạt động cơ dang và áp hông giúp ổn định khớp hông. Khởi đầu cho hai bàn chân sát vào nhau, chịu tải ở chân (T) rối bước chân (p) sang bên (p), sau khi chân (P) chạm đất, chuyển tải sang chân (p), rồi lê bàn chân (T) đến sát bàn chân (p), rồi lại bước sang bên (P) tiếp. Trong lúc tải nặng, chuyển và lê chân, vấn giữ hông ở tư thế trung tính (không duỗi, không gập). Đề chắc chắn, bệnh nhân có thể giữ tay trên thanh chắn giường hoặc để hai tay trên tường. Sau khi đi khoảng sang phải 3-5 m, bệnh nhân chuyển hướng đi từ phải sang trái.

 

Bước 3: Tập mạnh cơ và tải nặng lên chi yếu

Tải nặng lên chi yếu giúp duy trì cảm nhận vể cảm giác sâu của chi yếu sau đột quị. Điều này rất quan trọng cho khả năng giữ thăng bàng khi đi. Nhiều chứng cứ khoa học cho thấy tập mạnh cơ sẽ cải thiện tốc độ đi và không làm gia tăng sự co cứng cơ.. Do đó tập mạnh cơ và tập tải nặng lên chi yếu là những phần bắt buộc trong tác vụ đi bộ.

 

Bài tập chịu tải kết hợp duỗi hông chi yếu:

Bệnh nhân đứng, bục đề cách xa khoảng 15 cm. Cho bệnh nhân bước chân lành lên bục rôi trở vể vị trí ban đầu (số lần 10×3). Luôn nhớ nguyên tắc: gối thẳng + thân thẳng + hông duỗi trong suốt quá trình thực hiện. Nếu gối không thể duỗi thẳng, người tập hỗ trợ giữ gối hoặc cho bệnh nhân mang nẹp gối (hình 3.11).

Sau đây là các bài tập tập mạnh cơ duôi hông, duỗi gối, duỗi cổ chân (gập mặt lưng bàn chân), cơ dang hông. Các bài tập này được thực hiện bằng cách co cơ ly tâm và hướng tâm. Theo nguyên tắc chung, số lần thực hiện cho mỗi bài tập là 10 lần X 3.

 

Bài tập bước tới trước lên bục bằng chân yếu:

Bệnh nhân đứng thẳng, hai chân ngang hàng. Cho bệnh nhân bước chân yếu tới trước lên bục cao khoảng 8 cm. Sau đó bảo bệnh nhân chịu sức nặng lên chân yếu và dùng lực đẩy của chân lành ở phía sau để chuyển người ra trước và lên trên khi chân yếu nâng cả thân lên bục. Cuối cùng chuyển cả bàn chân lành lên bục. Rồi cho chân lành, sau đó chân yếu, hạ vể vị trí cũ.

Luôn nhớ nguyên tắc: phía bên ỵếu phải có gối duỗi + thân thẳng + hông duỗi khi chân lành bước lên (Hình 3.4).

 

Bài tập bước sang bên lên bục bàng chân yếu:

Bệnh nhân đứng thẳng, hai chân ngang hàng. Cho bệnh nhân bước chân yếu sang bên lên bục cao khoảng 8 cm. Rồi chuyển cả chân lành lên bục với nguyên tắc thân thẳng trong lúc bước lên. Rồi cho chân lành, sau đó chân yếu, hạ về vị trí cũ (Hình 3.28).

 

Bài tập bước xuống bục & bước ngược lại lên bục bằng chân lành:

Bệnh nhân đứng thẳng, hai chân ngang hàng trên bục cầu thang. Cho bệnh nhân bước chân lành xuống bục phía dưới. Lưu ý chân yếu không xoay ngoài khi chân lành bước xuống (nguyên nhân chân xoay ngoài khi bước là do co cứng cơ dép). Chân yếu vấn đề ở bục trên, chân lành bước ngược trở lại đế đặt bàn chân trở lại ở vị trí cũ (Hình 3.29).

 

Bài tập nâng & hạ gót;

Bài tập này làm mạnh lực đẫy của bàn chân ở giai đoạn cuối của thì trụ. Bài tập còn có tác dụng làm giãn cơ bắp chân. Cho bệnh nhân đứng cả hai chân trên bục. Đặt ½  bàn chân trong bục, Vỉ bàn ½ chân còn lại (phần gót) ở ngoài. Bảo bệnh nhân hạ từ từ gót chân và nâng bàn chân ngang với bề mặt của bục. Lưu ý gối và hông bên liệt vẫn duỗi trong lúc tập và lực tải nặng chủ yếu trên chân yếu (Hình 3.3),

–           Tập mạnh cơ vùng chân bằng bài tập co cơ đẳng động với máy (isokinetic dynamometer) hoặc co cơ đẳng trương với bâng thun có màu (elastic band) (hình 3.30).

Bước 4: Chuẩn bị tư thế tập và cho thực hiện tác vụ

–           Khởi đầu có thể cho bệnh nhân tập đi trên thàm tập đi (treadmill) có đai treo khi cơ lực bệnh nhân còn yếu chưa the đứng vững với tác dụng của trọng lực. Cũng với mục đích không để bệnh nhân quên ý niệm tác vụ đi sau đột quị, đi trên thảm tập đi với đai treo có thể thực hiện rất sớm sau đột quị mà không qua giai đoạn kéo giãn, tập mạnh cơ…

–           Nên tập đi bộ trên mặt đất khi tình trạng cơ lực bệnh nhân đã ổn định hơn, Người tập nên cho bệnh nhân mang một đai lưng, và sẽ giữ đai lưng này trong thời gian cùng bệnh nhân tập đi.

–           Cho bệnh nhân tự đi một mình có giám sát và tiến đến không giám sát sau khi bệnh nhân đã tự tin và cơ lực đà đủ.

–           Phân tích kỹ dáng đi dựa trên quan sát hoặc hình ảnh thu được trên máy quay, bác sĩ và kỹ thuật viên PHCN sẽ quyết định tập trung thêm vào nhóm cơ nào còn yếu

Bước 5: Tối ưu hóa tác vụ

Là những bài tập tăng độ khó, độ nhanh, độ phối hợp và thay đổi địa hình trong tác vụ đi bộ.

–           Tăng độ cao, độ xa của các bục và tăng độ nhanh khi bước lên xuống bục (xem phần tập cơ lực) tuy nhiên phải phù hợp với thể trạng của bệnh nhân).

–           Tập đi trong địa hình phức tạp, nhiều vật cản, độ dốc cao dần….

 

Bước 6: Tập sức bền

Khi bệnh nhân đã đủ cơ lực ít té ngã và có thể đi một đoạn dài liên tục 10 – 20 m, phải tính đến các bài tập tăng sức bền. Các bài tập tăng sức bền là các bài tập hiếu khí (aerobic exercise) trong đó năng lượng được tạo ra đề thực hiện bài tập đến từ việc sử dụng oxygen. Vẽ nguyên tắc, sức bền phụ thuộc vào V02 max.

Trên lâm sàng có thể tính được V02 max bằng công thức: 220 – tuổi bệnh nhân.

Nhờ tăng sức bền, bệnh nhân có thể đi lại nhanh hơn và xa hơn. Trước khi quyết định tập tăng sức bền, bác sĩ PHCN phụ trách bệnh nhân có đủ mọi thông tin vẽ tình trạng cùa bệnh nhân như ECG, phân suất tống máu, đường huyết   Tốt nhất là có sự hội chán và chỉ định của bác sĩ chuyên khoa tim

mạch.

Ở người bình thường, bài tập hiếu khí đơn giản và hiệu quả nhất là đi bộ 30 phút/ngày mỗi ngày hoặc cách ngày. Tuy nhiên điều này rất khó thực hiện trên bệnh nhân TBMMN. Do đó bệnh nhân sau đột quị sẽ được tập trên thảm tập đi hoặc xe đạp gắng sức có đo nhịp mạch.

Có thể tập 3 lần/tuần.

Một buổi tập tăng sức bền điển hình bao gồm:

 

Giai đoạn làm ấm (warm up):

Kéo dài 10 phút bao gồm các bài tập làm dẻo, nhảy nhẹ nhàng theo điệu nhạc với cường độ tâng dần, trong lúc nhảy hai chân vấn đề trên mặt đất (tuyệt đối không được nhảy khỏi mặt đất).

 

Giai đoạn tập:

Tập trên thảm tập đi bộ (treadmill) hoặc xe đạp gắng sức có đo nhịp mạch với cường độ là 40 – 60% V02 max (tương đương với nhịp mạch tối đa = 40 – 60% của trị sổ 220 – tuổi bệnh nhân) tâng dần thời gian lên đến 30 phút. Khi thời gian tập của bệnh nhân đã có thể lên đến 30 phút, nâng dân cường độ tập lớn hơn 60% V02 và tiến dần đến 90% V02, Sau thời gian này bệnh nhân không ngưng đột ngột mà chuyển sang giai đoạn làm nguội.

 

Giai đoạn làm nguội (cool down):

Tương tự giai đoạn làm nóng nhưng cường độ giảm dần.

Thực hiện tốt và đều đặn các bài tập sức bền sẽ giúp bệnh nhân tái hòa nhập cộng đồng tốt hơn và phòng ngừa tái phát TBMMN.

 

Nguồn Khoa PHCN – Bệnh viện Chợ Rẫy

Hương Phạm

Written by 

Related posts

Leave a Comment